Nơi nương náu không hề lay động
Thi Thiên 46 ca ngợi lý do không hề lay động dù thế gian rúng động. Câu 1 là lời tuyên bố. "Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân." Không phải là không có hoạn nạn. Mà là Ngài trở nên sự giúp đỡ ở giữa hoạn nạn. Trước giả Thi Thiên dùng cách diễn đạt mạnh mẽ. Rằng dù đất biến cải, núi rúng động chìm vào lòng biển, nước biển trào dâng cũng không sợ hãi.
Vì sao có thể không sợ hãi? Câu 4-5 là lý do. "Đức Chúa Trời ở giữa thành ấy, thành ấy sẽ không bị rúng động." Nơi Đức Chúa Trời ngự thì không bị lay động. Dù hoàn cảnh có chao đảo đến đâu, khi Đức Chúa Trời ở cùng thì trung tâm ấy không hề lay động. "Vừa rạng đông Đức Chúa Trời sẽ giúp đỡ nó." Nghĩa là vào giờ thật sớm, khi hoàn cảnh tối tăm nhất, Đức Chúa Trời sẽ giúp đỡ. Như buổi sáng đến sau sự chờ đợi, sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời đến sau hoạn nạn.
Chúa Giê-xu dù ở trong sự tối tăm của thập tự giá vẫn kêu cầu "Cha ơi." Nơi nương náu ấy đã ở cùng đến cuối. Sự phục sinh là bằng chứng. Hôm nay dù hoạn nạn của tôi là gì, hãy tin cậy rằng Đức Chúa Trời là nơi nương náu. Lý do thành không bị lay động là vì Đức Chúa Trời ngự ở đó. Dù đất biến cải, Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Ở trong Ngài là chỗ an toàn nhất. Hôm nay hãy bước vào chỗ ấy.
Vui lòng nhấn lưu sau khi viết.
Cùng Cầu Nguyện
"Lạy Đức Chúa Trời, trước giả Thi Thiên ca ngợi rằng dù đất rúng động và núi chìm vào lòng biển cũng không sợ hãi. Con biết bí quyết ấy là vì Chúa là nơi nương náu. Hôm nay trong đời sống con cũng có những điều đang lay động. Giữa những điều đó, con tin Chúa là nơi nương náu của con. Xin cho con nắm chặt lời hứa rằng Ngài giúp đỡ vào buổi rạng đông mà chờ đợi. A-men."